Truyện cười thầy đồ là mảng tiếu lâm chế giễu những ông thầy dạy chữ Hán trong làng mà chữ nghĩa lỗ mỗ, lại hay sĩ diện. Truyện tiêu biểu nhất là Tam đại con gà: thầy không biết chữ "kê" là con gà, đọc liều thành "dủ dỉ là con dù dì", rồi chống chế bằng cả một gia phả.
Bài này kể lại ba truyện quen bằng lời mới, thêm hai mẩu viết mới, giải thích bối cảnh lớp học chữ Hán ngày xưa để người nghe trẻ hiểu vì sao truyện buồn cười, và gợi ý cách kể. Người bị cười ở đây là cái dốt mà giấu dốt, không phải nghề dạy học; trong kho truyện dân gian cũng có rất nhiều truyện ca ngợi thầy giỏi, thầy hiền.
Thầy đồ ngày xưa là ai và vì sao bị đem ra cười
Trước khi chữ Quốc ngữ phổ biến, trẻ con trong làng học chữ Hán với thầy đồ, người thường là nho sĩ thi chưa đỗ hoặc đỗ thấp, mở lớp tại nhà hay được nhà giàu mời về dạy con. Thầy được trọng vì có chữ, được biếu gạo, biếu tiền ngày lễ, ngày Tết. Sách học vỡ lòng thường là các cuốn dạy chữ theo từng nhóm sự vật như trời đất, cây cối, con vật.
Vì nghề có địa vị mà không phải ai cũng đủ sức theo, nên trong làng có cả những ông thầy chữ ít mà thích nói chữ, tự xưng thông kim bác cổ. Truyện tiếu lâm chọc đúng vào chỗ ấy: thầy không biết mà không chịu nhận, thà bịa ra một câu giải thích vòng vèo còn hơn nói "để thầy tra lại".
Hiểu bối cảnh này giúp người nghe trẻ cười đúng chỗ. Cái buồn cười không phải là thầy không biết một chữ, ai cũng có lúc không biết. Cái buồn cười là thầy che giấu bằng những lời càng lúc càng phi lý, đến khi bị lộ thì vẫn cố cãi. Đó là thói "dốt hay nói chữ", và nó không chỉ có ở thầy đồ xưa.
Truyện Tam đại con gà kể lại
Truyện từng được đưa vào sách học, và câu "dủ dỉ là con dù dì" đã thành cách nói vui để chỉ kiểu giải thích liều.
Kể lại
Có anh chàng học hành dở dang nhưng lại hay khoe chữ, được một nhà giàu mời về dạy con. Một hôm dạy đến chữ "kê" (con gà), anh không biết chữ ấy đọc là gì. Sợ học trò biết mình dốt, anh liều đọc bừa: "Dủ dỉ là con dù dì." Đọc xong vẫn chột dạ, anh bèn ra miếu thổ công xin âm dương, thấy ba lần đều thuận, yên tâm về dạy to hơn.
Học trò gân cổ đọc ầm ĩ: "Dủ dỉ là con dù dì!" Ông chủ nhà nghe lạ tai, bước vào xem sách thì thấy rõ chữ "kê". Ông hỏi lại. Thầy biết mình hớ, nhưng vẫn nhanh miệng chống chế: "Đây là thầy dạy cho cháu biết đến tận ba đời con gà. Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà."
Ông chủ nhà nghe xong không biết nên cười hay nên giận. Trong bản kể quen thuộc, anh thầy về sau còn trách thổ công đã "cho keo" sai, và thổ công đáp lại rằng mình cũng chẳng biết chữ, chỉ thấy anh cầu khẩn quá nên cho bừa.
Vì sao truyện buồn cười
Truyện có hai đợt cười. Đợt đầu là cảnh cả lớp gân cổ đọc to một câu vô nghĩa, càng to càng lộ. Đợt hai là màn chống chế "tam đại": thay vì nhận sai, thầy dựng hẳn một cây gia phả tưởng tượng nối con dù dì với con gà qua con công. Lời biện hộ càng công phu thì cái dốt càng lộ rõ.
Chi tiết thổ công cũng không biết chữ là cái kết rất dân gian: ngay cả "thần" trong truyện cũng bị kéo xuống ngang hàng người thường, cho thấy tiếng cười tiếu lâm không chừa ai làm ra vẻ thông thái.
Hai truyện kể lại: thầy ngủ gật và chữ vạn
Hai truyện này cười hai thói khác nhau: thầy giấu tật bằng lời sang trọng, và trò học một tí đã tưởng biết hết.
1. Thầy đi gặp Chu Công
Thầy đồ nọ có tật ngủ gật giữa giờ dạy. Tỉnh dậy, sợ học trò chê, thầy nghiêm giọng giải thích: "Vừa rồi thầy không ngủ, thầy đi gặp Chu Công để hỏi đạo thánh hiền." Chu Công là bậc hiền nhân thời cổ mà nhà nho rất tôn kính, nên học trò im phăng phắc.
Hôm sau, đến lượt một cậu học trò gục xuống bàn ngủ. Thầy lấy thước gõ dậy, quát hỏi. Cậu bé dụi mắt, thưa: "Dạ, con cũng đi gặp Chu Công." Thầy hỏi Chu Công dạy gì. Cậu thưa: "Dạ, Chu Công bảo hôm qua không thấy thầy đến."
Mô típ này cũng gặp trong truyện cười của Trung Hoa, cho thấy truyện cười về thầy đồ đi qua nhiều nước có chung nền học chữ Hán.
2. Viết chữ vạn
Một nhà nọ cho con đi học. Ngày đầu thầy dạy chữ "nhất" (một), viết một nét ngang. Ngày thứ hai dạy chữ "nhị" (hai), hai nét ngang. Ngày thứ ba dạy chữ "tam" (ba), ba nét ngang. Cậu con về nhà tuyên bố: "Con biết hết chữ rồi, khỏi phải đi học nữa." Ông bố mừng, cho nghỉ.
Ít lâu sau ông bố nhờ con viết thiếp mời ông Vạn bên làng sang ăn giỗ. Cả buổi sáng không thấy con xong. Ông vào xem thì thấy con đang ngồi kẻ vạch kín mấy tờ giấy, mặt mũi lấm lem mực. Con than: "Bố ơi, tên ông ấy là Vạn, con mới kẻ được ba trăm nét, còn lâu mới đủ một vạn."
Truyện cười cái hấp tấp tưởng mình đã biết hết, và cũng là truyện dễ kể cho học sinh nhỏ vì ai cũng hiểu "vạn" là mười nghìn.
Hai mẩu viết mới theo khuôn truyện thầy đồ
Hai mẩu dưới đây là truyện mới viết, không có trong kho tiếu lâm cũ, mượn khuôn ông thầy hay nói chữ và cậu học trò lém lỉnh.
3. Thầy giảng chữ "phúc"
Ngày Tết, có người nhờ thầy đồ viết chữ "phúc" treo nhà, lại xin thầy giảng nghĩa. Thầy vuốt râu giảng nửa canh giờ: nào trời, nào đất, nào ruộng, nào miệng ăn. Người kia nghe đến mỏi chân, rụt rè hỏi: "Dạ, thế nói gọn lại là gì ạ?" Thầy nghĩ một lúc rồi bảo: "Gọn lại là... ông về treo lên rồi ăn Tết cho vui." Người kia gật gù: "Thế thì đúng là phúc thật."
4. Học trò hỏi vặn
Thầy giảng: "Người quân tử không bao giờ nói dối." Một cậu học trò giơ tay: "Thưa thầy, hôm qua thầy bảo thầy đi gặp Chu Công, thế Chu Công có thật cho thầy gặp không ạ?" Thầy ho khan hai tiếng: "Hôm nay ta học tiếp bài khác."
Một truyện kể lại nữa: anh học trò nói chữ
Mô típ "dốt hay nói chữ" có nhiều dị bản trong dân gian, đều xoay quanh người cố dùng chữ sang ở chỗ cần nói nôm. Truyện dưới đây kể lại theo mô típ ấy, lửa chỉ bén đống rơm và được dập ngay.
5. Nói chữ cho sang
Có anh học trò mới học được dăm chữ đã thích nói chữ cho sang. Một hôm về nhà, thấy bếp bén lửa sang đống rơm, anh không gọi "cháy, cháy" như mọi người mà đứng giữa sân hô: "Hoả! Hoả hoạn! Mau đem thuỷ đến!" Bà mẹ đang ở ngoài vườn nghe không hiểu, tưởng con đang đọc bài, cứ thế nhổ cỏ tiếp.
May có ông hàng xóm đi qua, thấy khói, xách ngay thùng nước dội tắt. Dập xong, ông quay sang anh học trò: "Lần sau cháy thì cứ kêu cháy, kêu nước. Chữ của cháu hay thật, nhưng lửa nó không biết chữ, mà mẹ cháu cũng không biết chữ." Anh học trò từ đó bớt nói chữ hẳn, ít nhất là những lúc có khói.
Truyện hợp kể cho học sinh lớn hơn để nói về việc chọn từ hợp người nghe: chữ càng sang mà người nghe không hiểu thì càng vô dụng, nhất là khi có việc gấp.
Thầy dốt, thầy giỏi và cách dân gian nhìn người dạy học
Cần nói rõ: kho truyện dân gian Việt Nam không hề coi thường nghề dạy học. Tục ngữ "không thầy đố mày làm nên", "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" cho thấy người thầy được trọng đến mức nào. Truyện cười thầy đồ chỉ chọc vào một kiểu người cụ thể: kẻ mượn danh thầy mà không có thực học, lại không chịu học thêm.
Chính vì thầy được trọng, nên thầy dốt mới thành chuyện cười. Một người bán hàng không biết chữ thì chẳng ai cười; một người nhận tiền dạy chữ mà không biết chữ "kê" thì cả làng có chuyện để kể. Tiếng cười ở đây là một cách giữ chuẩn: người đứng lớp phải biết thật.
Bài học cho người nghe hôm nay rất đơn giản và vẫn đúng: không biết thì nói không biết, rồi đi tra. Câu "để thầy xem lại" chưa bao giờ làm ai mất mặt; còn "dủ dỉ là con dù dì" thì được người ta nhắc lại đến mấy trăm năm.
Kể truyện thầy đồ cho học sinh và người lớn
Giải thích một câu về chữ Hán trước khi kể. Với học sinh hôm nay, hãy nói một câu rằng ngày xưa trẻ con học chữ Hán, mỗi chữ là một hình vẽ có nghĩa, chữ "kê" là con gà. Có vậy các em mới hiểu vì sao thầy đọc sai mà không ai biết.
Để cả lớp cùng đọc "dủ dỉ là con dù dì". Cho học sinh đồng thanh câu đó thật to, đúng như trong truyện, rồi mới kể đến cảnh ông chủ nhà bước vào. Tiếng cười sẽ đến tự nhiên.
Với người lớn, nhấn vào màn chống chế. Người lớn thích nhất câu "tam đại con gà", nên đọc câu đó chậm, rõ từng nấc dù dì, con công, con gà. Ai từng gặp kiểu người cãi cố sẽ cười ngay.
Giáo viên kể truyện này rất hợp. Một thầy cô tự kể truyện thầy đồ dốt là cách tự trào dễ thương, giúp học sinh hiểu rằng hỏi lại, tra lại khi không chắc là việc bình thường, kể cả với người lớn.
Câu hỏi thường gặp
Truyện Tam đại con gà có ý nghĩa gì?
Truyện chế giễu thói dốt mà hay nói chữ, không biết mà không chịu nhận. Anh thầy đọc sai chữ "kê" rồi chống chế bằng một cây gia phả tưởng tượng, lời biện hộ càng công phu thì cái dốt càng lộ. Truyện nhắc người nghe rằng nhận mình chưa biết không có gì đáng xấu hổ.
Chữ "kê" trong truyện Tam đại con gà nghĩa là gì?
Chữ "kê" là chữ Hán chỉ con gà, nằm trong các sách học vỡ lòng ngày xưa. Thầy trong truyện không biết chữ này nên đọc liều thành "dủ dỉ là con dù dì". Dù dì là cách gọi dân gian chỉ một loài chim cú ở một số vùng.
Chu Công trong truyện thầy đồ ngủ gật là ai?
Chu Công là một bậc hiền nhân thời cổ của Trung Hoa, được Khổng Tử rất kính trọng và nhà nho tôn làm mẫu mực. Nói "đi gặp Chu Công" là cách thầy đồ ngụ ý mình mơ thấy bậc thánh hiền, và về sau thành cách nói đùa để chỉ việc ngủ gật.
Truyện thầy đồ có làm học sinh coi thường thầy cô không?
Không, nếu kể đúng tinh thần. Truyện cười kẻ mượn danh thầy mà không có thực học, chứ không cười nghề dạy học. Nên kể kèm những câu tục ngữ trọng thầy, và nói rõ rằng thầy giỏi là người dám nói "để thầy tra lại" khi không chắc.
Truyện viết chữ vạn có phải truyện Việt Nam không?
Truyện có mặt trong kho truyện cười Việt Nam, nhưng mô típ học chữ nhất, nhị, tam rồi tưởng biết hết cũng gặp trong truyện cười Trung Hoa. Các nước cùng học chữ Hán thường chia sẻ những truyện cười về chuyện học chữ như vậy.