SieuHaiHuoc.comSiêu Hài Hước
Truyện cười dân gian kể lại

Truyện cười anh chàng lười trong dân gian: nằm chờ sung rụng và cái bánh đeo cổ

Kể lại các truyện tiếu lâm về người lười: nằm há miệng chờ sung, nhờ buộc quai nón, cái bánh đeo cổ, ba anh lười thi nhau, kèm mẩu viết mới và cách kể.

Lazy young man in a conical hat lying on his back under a fig tree beside a dirt path, mouth open toward the branches, a passerby pausing curiously, dappled sunlight, low angle

Truyện cười về người lười là mảng tiếu lâm quen thuộc, gắn với cả một thành ngữ ai cũng biết: "nằm há miệng chờ sung". Nhân vật lười trong truyện không chỉ ngại làm việc nặng, mà ngại đến từng cử động nhỏ nhất, như giơ tay nhặt quả, quay đầu, hay mở miệng nói thêm một câu.

Bài này kể lại bốn truyện lười quen trong kho tiếu lâm bằng lời mới, thêm ba mẩu viết mới theo cùng khuôn, rồi bàn vì sao một xã hội nông nghiệp chăm chỉ lại thích cười người lười đến thế. Các truyện có nhiều dị bản; một số chi tiết đã được kể nhẹ đi để hợp nghe cho cả nhà.

Người lười trong tiếu lâm: lười đến mức phi lý

Xã hội nông nghiệp xưa sống bằng sức lao động: một nắng hai sương, "có làm thì mới có ăn". Người lười vì thế là nhân vật dễ bị cười nhất làng. Nhưng truyện tiếu lâm không cười người mệt mỏi hay người ốm yếu. Nó cười kẻ khoẻ mạnh, đủ ăn đủ mặc, mà ngại đến mức thà chịu thiệt chứ không chịu nhấc tay.

Cơ chế gây cười của truyện lười là phóng to cái ngại. Bình thường người ta lười đi chợ, lười rửa bát. Trong truyện, nhân vật lười đến mức không buồn nhặt quả rơi bên cạnh, không buồn xoay cái bánh trên cổ, không buồn nói hết câu. Cái lười bị đẩy lên đến điểm phi lý, và người nghe cười vì thấy rõ cái giá phải trả lại to hơn nhiều so với công sức tiết kiệm được.

Truyện lười hay có cặp nhân vật: một người lười gặp một người còn lười hơn. Đây là mô típ nhân đôi giống truyện hai ông keo kiệt hay hai anh khoác lác, giúp câu chốt bất ngờ: ai cũng tưởng nhân vật đầu là lười nhất, hoá ra còn có người vượt mặt.

Hai truyện kể lại: chờ sung và nhờ buộc quai nón

Đây là truyện lười nổi tiếng nhất, đến mức để lại cho tiếng Việt một thành ngữ.

1. Nằm há miệng chờ sung

Có anh chàng lười nằm ngửa dưới gốc cây sung, há miệng ra chờ quả chín rụng vào. Chờ từ sáng đến trưa, quả rụng lộp độp xuống quanh người, nhưng chẳng quả nào rơi trúng miệng. Anh vẫn không chịu ngồi dậy nhặt.

Đúng lúc ấy có người đi qua. Anh lười gọi khẽ: "Bác ơi, bác nhặt hộ quả sung bỏ vào miệng cháu với." Người kia dừng lại, cúi xuống nhìn, rồi nói: "Ừ, nhưng cháu buộc hộ bác cái quai nón trước đã, nó tuột từ đầu làng mà bác ngại giơ tay." Anh lười nghĩ một lúc rồi bảo: "Thôi, thế thì bác cứ đi đi, cháu chờ sung vậy."

Truyện này là gốc của thành ngữ "há miệng chờ sung", dùng để chỉ người chỉ trông chờ may mắn mà không chịu làm. Một số dị bản cho người qua đường dùng chân gắp sung bỏ vào miệng anh lười, hoặc cho anh lười chê người kia lười hơn mình.

Vì sao truyện buồn cười

Cái cười có hai tầng. Tầng thứ nhất là hình ảnh anh nằm há miệng giữa trời, quanh người sung rụng đầy mà không quả nào vào miệng. Tầng thứ hai là câu chốt: tưởng gặp được người giúp, hoá ra người giúp còn lười hơn, lười đến mức để quai nón tuột suốt quãng đường. Hai kẻ lười đứng nhìn nhau, không ai chịu nhấc tay trước.

Khi kể cho trẻ, bạn có thể dừng ở câu "bác nhặt hộ quả sung" và hỏi các em đoán người qua đường sẽ làm gì. Phần lớn các em đoán là nhặt giúp, và câu trả lời "buộc hộ quai nón" sẽ bất ngờ hơn nhiều.

Hai truyện kể lại: cái bánh đeo cổ và ba anh lười thi nhau

Hai truyện dưới đây cho thấy cái lười có thể vượt qua cả cái đói và cái ướt.

2. Cái bánh đeo cổ

Anh chồng lười đến nỗi việc gì cũng chờ vợ làm. Một lần vợ phải về quê ngoại mấy ngày, lo chồng ở nhà đói, bèn làm một cái bánh tròn to như vành nón, khoét lỗ ở giữa, đeo vào cổ chồng, dặn: "Đói thì cứ cúi xuống mà cắn."

Mấy hôm sau vợ về, thấy chồng nằm thiểu não trên giường, kêu đói lả. Nhìn lại cái bánh trên cổ thì phần trước miệng đã bị cắn khuyết một mảng, còn ba phần tư vòng bánh phía sau vẫn nguyên. Vợ hỏi sao không ăn tiếp. Chồng đáp: "Bánh hết rồi mà."

Trong kho tiếu lâm, truyện này có kết thúc nặng nề hơn; ở đây kể theo cách nhẹ, chỉ dừng ở cảnh đói lả, để hợp kể cho cả nhà và trẻ em.

3. Ba anh lười và mái nhà dột

Ba anh lười ở chung một gian nhà, chẳng ai chịu lợp lại mái. Một đêm trời mưa, nước dột tong tong xuống chiếu. Anh thứ nhất nằm im, lẩm bẩm: "Hình như mưa." Anh thứ hai không mở mắt: "Ừ, dột rồi đấy." Anh thứ ba trở mình, gắt: "Hai ông nói lắm thế, mỏi miệng chết."

Sáng ra nước ngập ướt cả chiếu, cả ba vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Hàng xóm sang hỏi ai lợp mái. Cả ba cùng chỉ vào nhau.

Ba mẩu viết mới theo khuôn truyện lười

Ba mẩu này là truyện mới viết, không có trong kho tiếu lâm cũ. Mẩu nào cũng có một người bình thường làm cho kẻ lười tự thấy cái lý của mình đổ.

4. Chổi quét nhà tự đứng

Mẹ dặn Tèo quét nhà. Tèo dựng cây chổi vào góc, rồi ngồi đợi. Mẹ đi chợ về hỏi sao chưa quét. Tèo bảo: "Con đang đợi gió, hôm qua gió to quá, bụi bay hết ra sân, nhà sạch bong. Hôm nay gió nhỏ, con đợi thêm chút nữa."

5. Học thuộc bài bằng cách nghe

Cu Tí nằm trên võng, nhờ chị đọc to bài học thuộc lòng. Chị hỏi sao không tự đọc. Tí bảo: "Chị đọc thì chị nhớ, em nghe thì em nhớ, hai chị em cùng thuộc, đỡ tốn công hai lần." Hôm sau cô kiểm tra bài, chị Tí thuộc vanh vách. Còn Tí thì chỉ nhớ mỗi giọng chị.

6. Cái nồi tự rửa

Anh Nam ăn xong để nồi cơm cháy ngâm nước, bảo vợ: "Để nồi nó tự rửa, ngâm qua đêm là sạch." Sáng ra vợ nhìn vào nồi, rồi bảo: "Ừ, nồi tự rửa rồi đấy, giờ anh tự nấu cơm sáng xem nó có tự chín không." Anh Nam đành xắn tay áo rửa nồi.

Vì sao xã hội chăm chỉ lại thích cười người lười

Người ta thường cười những gì mình sợ trở thành. Trong làng xưa, lười là con đường ngắn nhất dẫn đến đói. Kể truyện về kẻ lười là cách người lớn nhắc con cháu mà không cần nói thẳng: nhìn anh nằm dưới gốc sung kia, đừng như thế. Bài học đi kèm tiếng cười thì dễ nhớ hơn lời mắng.

Mặt khác, truyện lười cũng có chút thông cảm. Ai làm lụng vất vả cũng có lúc mơ được nằm một chỗ mà có ăn. Anh chàng lười trong truyện vì thế vừa là đối tượng bị cười, vừa là giấc mơ trốn việc mà người nghe không dám làm. Đó là lý do truyện lười hiếm khi trừng phạt nhân vật quá nặng: anh chàng chỉ bị đói, bị ướt, bị bẽ mặt.

Hôm nay, cái lười đổi hình dạng: lười đứng dậy tắt đèn, lười đọc hết một tin nhắn dài, lười đi bộ vài trăm bước. Truyện cổ vẫn hợp, vì hình ảnh nằm há miệng chờ sung vẫn là cách dễ hiểu nhất để chỉ thói chỉ trông chờ người khác hoặc trông chờ may mắn.

Thành ngữ, tục ngữ về lười dùng khi kể chuyện

Kể truyện lười xong, có thể nối bằng một câu thành ngữ cho người nghe nhớ lâu. Một số câu quen thuộc:

  • Há miệng chờ sung: chỉ trông chờ may mắn, không chịu làm. Ra đời từ chính truyện tiếu lâm kể ở trên.
  • Ăn không ngồi rồi: chỉ người không làm gì mà vẫn muốn hưởng.
  • Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ: có làm thì có ăn, dừng tay thì đói. Hợp để kết truyện cái bánh đeo cổ.
  • Có công mài sắt có ngày nên kim: câu đối lập với truyện lười, hợp để kể cho học sinh sau khi cười xong.
  • Nhác ăn thì chẳng nhác làm: câu bông đùa ngược, dùng khi muốn trêu nhẹ người lười mà không làm họ mất lòng.

Chỉ nên dùng một câu, nói sau khi người nghe đã cười xong, như một cái kết nhẹ nhàng. Nói nhiều câu liền nhau thì thành bài giảng.

Kể truyện lười sao cho bật cười

Kể bằng giọng uể oải. Nhân vật lười phải nói chậm, kéo dài, như mỗi chữ là một gánh nặng. Người kể đổi sang giọng ấy đúng lúc nhân vật mở miệng, rồi trở lại giọng thường khi kể tiếp.

Diễn tả bằng động tác tối thiểu. Nằm ngửa, há miệng, mắt lim dim là đủ. Càng ít động tác càng đúng chất, và chính sự ít ỏi ấy làm người nghe buồn cười.

Câu chốt phải ngắn. "Bánh hết rồi mà", "mỏi miệng chết", "thôi, bác cứ đi đi": càng ngắn càng tốt. Đừng giải thích thêm, người nghe tự hiểu.

Tránh ám chỉ người trong bàn. Truyện lười dễ bị dùng để trêu ai đó đang có mặt. Nếu muốn trêu, hãy tự trào về mình trước, như "hồi bé mình cũng từng chờ sung như thế".

Kể nối hai truyện theo mức tăng dần. Kể truyện ba anh lười và mái nhà dột trước vì ngắn, rồi mới đến nằm há miệng chờ sung có màn người qua đường lười hơn. Người nghe đã quen nhịp sẽ đón câu chốt thứ hai bằng tiếng cười to hơn.

Câu hỏi thường gặp

Thành ngữ há miệng chờ sung bắt nguồn từ đâu?

Thành ngữ bắt nguồn từ truyện tiếu lâm về anh chàng lười nằm dưới gốc sung chờ quả rụng vào miệng, thậm chí nhờ người qua đường nhặt hộ. Thành ngữ dùng để chỉ người chỉ trông chờ may mắn hoặc người khác mà không chịu tự làm.

Truyện cái bánh đeo cổ có hợp kể cho trẻ không?

Hợp, nếu kể theo cách nhẹ: anh chồng chỉ đói lả vì không chịu xoay bánh. Trong một số bản kể xưa kết thúc nặng nề hơn, khi kể cho trẻ nên tránh. Có thể dùng một chiếc bánh tròn bằng giấy để minh hoạ cho các em thấy.

Có nên dùng truyện lười để nhắc con làm việc nhà không?

Có thể, nhưng hãy kể như một câu chuyện vui, không gắn ngay với lỗi của con. Kể xong, để con tự nói vì sao anh chàng buồn cười. Trẻ thường tự liên hệ và nhớ lâu hơn khi không cảm thấy bị mắng qua câu chuyện.

Vì sao truyện lười hay có hai nhân vật lười gặp nhau?

Vì mô típ nhân đôi tạo ra câu chốt bất ngờ: người nghe tưởng nhân vật đầu là lười nhất, hoá ra người thứ hai còn hơn. Mô típ này cũng gặp ở truyện keo kiệt và truyện khoác lác, là một công thức quen của tiếu lâm.

Truyện lười có phải chê người không có việc làm không?

Không. Truyện tiếu lâm cười kẻ khoẻ mạnh, có điều kiện mà ngại đến phi lý, không cười người thất nghiệp, người ốm yếu hay người đang mệt. Khi kể, nên giữ đúng tinh thần đó để không ai trong người nghe cảm thấy bị chạm tự ái.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.