Truyện cười keo kiệt (còn gọi là truyện hà tiện, bủn xỉn) là một trong những đề tài lâu đời nhất của truyện tiếu lâm Việt Nam. Nhân vật thường là một ông nhà giàu hoặc một người không hề thiếu thốn, nhưng tiếc từng đồng, từng hạt muối, đến mức làm ra những việc phi lý.
Bài này kể lại sáu truyện quen trong kho tiếu lâm bằng lời mới, thêm hai mẩu viết mới theo cùng khuôn, rồi bàn vì sao người xưa ghét thói keo kiệt mà lại quý sự tiết kiệm. Các truyện dân gian vốn nhiều dị bản; bạn có thể gặp bản khác ở sách hay ở ông bà mình, điều đó hoàn toàn bình thường.
Người keo kiệt trong tiếu lâm là ai
Điểm mấu chốt của truyện keo kiệt là nhân vật không nghèo. Người nghèo phải chắt bóp là chuyện đáng thương, không ai đem ra cười. Người bị cười là kẻ có thừa mà vẫn tiếc, tiếc đến mức thiệt cho chính mình, cho vợ con, cho khách đến nhà. Cái phi lý càng lớn thì tiếng cười càng to.
Truyện keo kiệt thường dựng trên ba kiểu tình huống. Kiểu thứ nhất là keo kiệt đến quên cả an nguy: thà gặp nguy chứ không chịu "đưa" bất cứ thứ gì. Kiểu thứ hai là keo kiệt với người nhà: tính toán từng miếng ăn của vợ con. Kiểu thứ ba là hai người keo kiệt gặp nhau: thi xem ai bủn xỉn hơn, ai cũng tưởng mình khôn.
Vì chọc vào một thói xấu chứ không chọc vào ai cụ thể, truyện keo kiệt rất an toàn để kể ở bữa cơm gia đình, buổi liên hoan hay trong lớp học. Trẻ em hiểu ngay cái phi lý, người lớn thì thường nhận ra một chút bóng dáng ai đó quen quen, có khi là chính mình lúc tiếc tiền mua đôi dép mới.
Ba truyện kể lại: dưới sông, bên mâm cơm và cái quạt
Ba truyện dưới đây thuộc loại phổ biến nhất, gặp ở nhiều tuyển tập với lời kể khác nhau.
1. Đưa tay hay cầm tay
Ông phú hộ nổi tiếng hà tiện, cả đời chưa cho ai cái gì. Một hôm qua cầu khỉ, ông trượt chân rơi xuống sông. Người qua đường chạy lại, chìa tay xuống gọi: "Ông ơi, đưa tay đây!" Ông vùng vẫy, nhất định không đưa.
Một người hàng xóm biết tính ông chạy tới, gạt mọi người ra, chìa tay xuống: "Ông ơi, cầm lấy tay này!" Ông chộp ngay, được kéo lên bờ, ướt như chuột lột. Người hàng xóm giải thích với mọi người: "Bảo ông ấy đưa thì cả đời ông ấy không đưa cái gì cho ai, phải bảo cầm thì ông ấy mới cầm."
2. Nhìn cá treo mà ăn cơm
Nhà kia có của ăn của để, nhưng ông chủ chỉ mua đúng một con cá khô, treo lên xà nhà. Bữa cơm, cả nhà mỗi miếng cơm thì ngẩng lên nhìn con cá một lần, coi như đã ăn với cá.
Thằng con út đói, và một miếng cơm mà ngẩng lên nhìn hai lần. Ông bố gõ đũa xuống mâm: "Nhìn gì mà nhìn lắm thế, mặn chết bây giờ!"
3. Cái quạt mười năm
Ông keo mua cho con một cái quạt nan, dặn phải giữ cho bền. Một năm sau quạt sờn nan, con bảo cần mua cái khác. Ông mắng: "Quạt của bố dùng mười năm vẫn mới. Mày quạt kiểu gì mà nhanh hỏng thế?"
Con hỏi bố quạt thế nào. Ông cầm quạt xoè ra, giữ yên trước mặt, rồi lắc đầu qua lại: "Đây, quạt đứng yên, mặt mình lắc. Quạt có mòn đâu mà hỏng." Con ngẫm một lúc rồi hỏi: "Thế cái cổ của bố có mòn không ạ?"
Ba truyện kể lại: hai ông keo gặp nhau
Mô típ "hai ông keo kiệt" cho phép tiếng cười nhân đôi: mỗi ông đều tin mình hơn người, và người nghe được xem hai cái phi lý đặt cạnh nhau.
4. Quà biếu bằng tranh
Hai ông hà tiện ở hai làng chơi thân với nhau, vì chẳng ai tốn của ai đồng nào. Ngày Tết, ông Giáp sang nhà ông Ất, tay cầm một tờ giấy vẽ con gà luộc, kính cẩn biếu: "Gọi là chút lễ mọn."
Ông Ất đón lấy, treo lên vách, rồi sai con: "Mang rượu ra mời bác." Thằng con mang ra một tờ giấy vẽ cái nậm rượu. Ông Ất rót bằng tay không, chạm "chén" với khách. Ông Giáp uống cạn, khen rượu ngon. Lúc về, ông Giáp ghé tai bạn: "Lần sau bác bảo cháu vẽ nậm nhỏ thôi, vẽ to thế tốn mực."
5. Nói chuyện cần gì đèn
Khách đến chơi buổi tối, ông chủ nhà keo thắp đèn dầu ra tiếp. Ngồi một lúc, ông vặn tắt đèn: "Mình ngồi nói chuyện với nhau thì cần gì đèn, nghe tiếng là đủ."
Hai người nói chuyện trong bóng tối đến khuya. Lúc khách đứng dậy về, mò mãi không thấy đôi guốc. Chủ nhà đành thắp đèn lên soi. Khách xỏ guốc xong, cười: "Bác tiết kiệm được nửa buổi dầu, giờ thắp lại tìm guốc, coi như tốn cả buổi, lại thêm công thắp hai lần."
6. Thi xem ai tiết kiệm hơn
Hai ông keo khoe nhau cách giữ của. Ông thứ nhất bảo: "Nhà mình ăn cơm thì không bao giờ mua thức ăn, cứ mỗi bữa ra đứng cửa hàng thịt hít một hơi rồi về ăn cơm." Ông thứ hai lắc đầu: "Thế còn phí đi lại. Nhà mình thì đợi gió thổi mùi từ hàng thịt sang, mở cửa sổ ra là xong."
Ông thứ nhất ngẫm nghĩ rồi chịu thua, nhưng còn hỏi thêm: "Thế hôm nào trời lặng gió thì sao?" Ông thứ hai đáp: "Thì hôm ấy cả nhà nhịn, coi như ăn chay."
Hai mẩu viết mới theo khuôn truyện hà tiện
Hai mẩu này là truyện mới viết, không có trong kho tiếu lâm cũ, chỉ mượn khuôn để bạn thấy công thức vẫn dùng được hôm nay: một người tính toán quá kỹ, rồi bị chính phép tính ấy làm thiệt.
7. Lá thư chữ nhỏ
Ông Hai dặn con đi học xa phải viết thư về cho bằng chữ thật nhỏ để đỡ tốn giấy. Con nghe lời, viết chữ nhỏ như hạt vừng, một tờ giấy chứa được cả tháng chuyện. Thư về, ông Hai cầm lên đọc không nổi, phải ra chợ mua cái kính lúp. Tháng sau ông nhắn con: "Từ nay viết chữ to như cũ, cái kính đắt hơn cả trăm tờ giấy."
8. Mời khách bằng lời
Bà Ba có khách đến chơi, đon đả: "Ở lại ăn cơm với nhà mình nhé, có cá kho đấy." Khách từ chối lấy lệ, bà nài thêm hai câu rồi thôi. Khách vừa ra khỏi cổng, đứa cháu hỏi: "Bà ơi, nhà mình có cá kho đâu?" Bà bảo: "Thì vì không có nên bà mới mời được nhiệt tình như thế."
Vì sao người xưa ghét keo kiệt mà vẫn quý tiết kiệm
Văn hoá làng xã Việt Nam đề cao sự cần kiệm: "ăn có nhai, nói có nghĩ", "tích tiểu thành đại". Nhưng cũng chính văn hoá ấy rất coi trọng tình làng nghĩa xóm, lễ nghĩa với khách, sự rộng rãi với người khó. Truyện keo kiệt đứng ở ranh giới giữa hai giá trị đó: nó cười người đã giữ của đến mức đánh mất tình nghĩa.
Có thể nhận ra ranh giới ấy qua từng truyện. Tiết kiệm là bớt cái không cần để dành cho cái cần; keo kiệt là bớt luôn cả cái cần, kể cả sự an toàn của bản thân (ông phú hộ dưới sông), bữa ăn của con (cá treo), sự tử tế với khách (quà bằng tranh, tắt đèn). Người nghe cười vì thấy cái phi lý, rồi tự hiểu bài học mà không cần ai giảng.
Điều đáng chú ý là truyện keo kiệt hiếm khi cho nhân vật bị trừng phạt nặng. Ông phú hộ vẫn được kéo lên, hai ông keo vẫn chơi với nhau. Tiếng cười dân gian ở đây nhẹ nhàng, giống lời trêu của người trong làng hơn là lời kết tội. Khi kể lại cho trẻ, bạn nên giữ đúng sắc thái đó: cười để nhớ, không phải để ghét ai.
Dùng truyện keo kiệt vào dịp nào cho hợp
Mỗi truyện hợp một hoàn cảnh khác nhau, chọn đúng thì dễ được cười hơn:
- Bữa cơm gia đình: truyện nhìn cá treo ăn cơm, vì cả nhà đang ngồi quanh mâm, ai cũng hình dung được. Kể xong có thể đùa nhẹ "hôm nay nhà mình có cá thật, cứ gắp thoải mái".
- Lớp học tiểu học: truyện cái quạt mười năm, cho một em lên làm động tác lắc đầu. Sau đó hỏi các em: dùng quạt kiểu đó có đỡ tốn không, và có mệt không?
- Buổi liên hoan, tất niên: truyện hai ông keo vẽ quà và rót rượu bằng tay không. Truyện có cảnh chạm chén tưởng tượng, người kể có thể nâng ly thật lên ở câu chốt.
- Buổi trà với người lớn tuổi: truyện đưa tay hay cầm tay, vì người lớn tuổi thường đã nghe và thích nghe lại theo giọng mới. Có khi chính họ sẽ kể tiếp một dị bản khác.
- Không nên dùng: khi có người trong bàn vừa gặp khó khăn về tiền bạc, hoặc khi đang bàn chuyện chia tiền góp, vì truyện dễ bị hiểu là ám chỉ.
Kể truyện keo kiệt sao cho duyên
Nhấn mạnh rằng nhân vật có của. Mở đầu bằng một câu như "nhà ông giàu nhất làng" để người nghe hiểu ngay đây là keo kiệt chứ không phải nghèo khó. Thiếu câu này, truyện dễ thành chuyện buồn.
Diễn tả động tác. Truyện nhìn cá treo và cái quạt mười năm sống nhờ động tác: ngẩng đầu nhìn, lắc đầu qua lại. Làm động tác thật chậm, nghiêm túc như thể đó là việc bình thường nhất đời.
Câu chốt để nhân vật tự nói. Cái cười nằm trong câu của ông bố "mặn chết bây giờ" hay của người hàng xóm "phải bảo cầm". Hãy nói câu đó bằng giọng của nhân vật, đừng tóm tắt lại bằng lời người kể.
Kể hai truyện liền nhau. Truyện keo kiệt ngắn, kể một truyện dễ hụt. Kể hai truyện cùng chủ đề liên tiếp, truyện sau thường được cười to hơn vì người nghe đã vào nhịp.
Câu hỏi thường gặp
Truyện cười keo kiệt nào hợp kể cho trẻ nhỏ nhất?
Truyện nhìn cá treo ăn cơm và cái quạt mười năm hợp nhất, vì ngắn, có động tác dễ bắt chước và câu chốt rõ. Trẻ hiểu ngay cái phi lý mà không cần biết bối cảnh xưa. Truyện cứu người dưới sông nên kể cho trẻ lớn hơn, nhấn vào phần được cứu.
Truyện "đưa tay đây" và "cầm lấy" có phải truyện Việt Nam không?
Truyện này có mặt trong kho tiếu lâm Việt Nam, nhưng mô típ người hà tiện không chịu "đưa" cũng xuất hiện ở truyện cười của nhiều nước. Truyện cười dân gian thường đi qua nhiều vùng và được mỗi nơi kể lại theo cách riêng.
Làm sao kể truyện keo kiệt mà không khiến ai trong bàn thấy bị ám chỉ?
Hãy dùng nhân vật giả định như "ông phú hộ làng bên", không gắn với ai đang ngồi đó, và đừng nhìn về một người cụ thể khi kể câu chốt. Nếu trong bàn có người vừa than tiếc tiền, nên chọn đề tài khác.
Có thể dùng truyện keo kiệt để dạy trẻ về tiết kiệm không?
Có, nhưng nên kể xong rồi hỏi trẻ vì sao ông trong truyện buồn cười, khác gì với việc để dành tiền mua thứ mình cần. Trẻ sẽ tự phân biệt tiết kiệm có mục đích với keo kiệt quá mức mà không thấy như đang nghe giảng.
Truyện keo kiệt có thể đem kể ở tiệc công ty không?
Được, vì đề tài trung tính, không chê ai cụ thể. Chọn truyện hai ông keo gặp nhau hoặc nói chuyện cần gì đèn, kể ngắn trong khoảng một phút. Tránh nối truyện sang chuyện lương thưởng hay chi tiêu của công ty để không ai thấy khó xử.