SieuHaiHuoc.comSiêu Hài Hước
Truyện cười dân gian kể lại

Các trạng cười trong truyện dân gian Việt Nam: Ba Giai Tú Xuất, Xiển Bột, Bác Ba Phi

Ngoài Trạng Quỳnh, mỗi vùng có một trạng cười riêng: Ba Giai Tú Xuất đất Hà thành, Xiển Bột xứ Nghệ, Bác Ba Phi miền Tây. Chân dung, kiểu hài và cách kể.

Wide view of villagers of mixed ages laughing together in a rural Vietnamese courtyard at night, an older man telling a story beside a small charcoal stove, warm firelight

Trạng cười là cách dân gian gọi những nhân vật chuyên gây cười bằng trí khôn hoặc tài nói. Ngoài Trạng Quỳnh nổi tiếng khắp nước, nhiều vùng có nhân vật riêng: Ba Giai và Tú Xuất gắn với Hà Nội và vùng lân cận, Xiển Bột gắn với xứ Nghệ, Bác Ba Phi gắn với vùng U Minh, Cà Mau ở miền Tây Nam Bộ.

Mỗi nhân vật có một kiểu hài khác nhau, phản ánh tính cách và đời sống của vùng đất sinh ra họ. Bài này vẽ chân dung từng người, giải thích kiểu tiếng cười, và lưu ý khi kể. Vì đây là truyện truyền miệng nhiều dị bản, các chi tiết tiểu sử dưới đây chỉ là những gì thường được nhắc, không nên coi là ghi chép lịch sử chắc chắn.

Vì sao mỗi vùng lại có một trạng cười riêng

Trong làng xã xưa, tiếng cười cần một "người đại diện". Người dân không thể trực tiếp chê ông quan hách dịch hay nhà giàu keo kiệt, nhưng có thể kể một truyện trong đó có một nhân vật dám làm thay mình. Nhân vật ấy dần được gom thêm truyện, mỗi người kể góp một chi tiết, đến lúc thành một "trạng".

Vì sinh ra từ đời sống cụ thể, mỗi trạng cười mang màu của vùng mình. Nhân vật đất kinh kỳ hay chơi khăm kẻ hợm hĩnh ở phố chợ, quan lại thị thành. Nhân vật xứ Nghệ có cái lý sự, cái gan và lối nói thẳng của vùng đất nghèo, gió Lào. Nhân vật miền Tây sông nước lại sống bằng tài "nói dóc", phóng đại thiên nhiên hoang sơ thành chuyện ly kỳ để cả xóm cười.

Biết điều này giúp bạn kể đúng chất. Kể truyện Bác Ba Phi bằng giọng nghiêm như kể Trạng Quỳnh đối sứ thần thì mất nửa cái duyên; ngược lại, kể truyện Quỳnh mà phóng đại kiểu nói dóc thì sai tinh thần. Cũng nhờ hiểu nguồn gốc vùng miền, người kể nên giữ một nguyên tắc: cười cái thói xấu trong truyện, không cười giọng nói hay tính cách của người vùng đó.

Ba Giai và Tú Xuất: cặp đôi chơi khăm đất Hà thành

Ba Giai và Tú Xuất là hai nhân vật thường xuất hiện cùng nhau trong truyện cười gắn với Hà Nội và vùng lân cận, bối cảnh thường được đặt vào khoảng thế kỷ XIX. Tú Xuất được hiểu là một ông tú, tức người đỗ tú tài; Ba Giai thì nổi tiếng nghịch ngợm, liều lĩnh. Tư liệu về con người thật của hai nhân vật này rất mờ, nên hãy coi họ trước hết là nhân vật truyện.

Kiểu hài của Ba Giai Tú Xuất là chơi khăm: bày trò để kẻ tham lam, kẻ ỷ thế, kẻ hợm của tự sa vào cái bẫy do lòng tham của chính họ giăng ra. Đối tượng thường là quan lại tham nhũng, nhà giàu bủn xỉn, kẻ buôn gian bán lận ở phố chợ. Nhiều truyện có màu sắc tinh quái hơn Trạng Quỳnh, đôi khi hai ông cũng bị chính mưu mẹo của mình làm cho dở khóc dở cười.

Khi kể, nên chọn những truyện mà người bị lừa là kẻ đáng bị bẽ mặt, và trò chơi khăm không gây hại thật cho ai. Trong kho dị bản có những truyện thô hoặc trò đùa quá tay; với người nghe nhỏ tuổi, bạn có thể giữ phần mưu mẹo và làm nhẹ phần hậu quả. Tinh thần chung là trí khôn đứng về phía người yếu, chứ không phải khuyến khích lừa người.

Xiển Bột: cái lý sự và cái gan của xứ Nghệ

Xiển Bột là nhân vật truyện cười dân gian gắn với vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Cái tên nghe đã thấy chất dân dã. Theo những gì thường được kể, Xiển Bột là người nghèo, sống giữa dân thường, và chuyên dùng lý lẽ để làm bẽ mặt kẻ có quyền có của trong làng: lý trưởng, chánh tổng, nhà giàu cho vay nặng lãi.

Kiểu hài của Xiển Bột là cãi lý và bắt bẻ. Nhân vật thường làm như chấp nhận yêu cầu vô lý của kẻ trên, rồi thực hiện đúng từng chữ đến mức phi lý, buộc đối phương phải tự rút lại. Đây là lối hài rất hợp với hình ảnh người xứ Nghệ trong văn hoá dân gian: chịu thương chịu khó, ít lời mà nói câu nào chắc câu ấy, không chịu cúi đầu trước sự bất công.

Truyện Xiển Bột ít được in rộng rãi như Trạng Quỳnh, nhiều truyện vẫn sống chủ yếu qua lời kể của người lớn tuổi trong vùng. Nếu bạn là người xứ Nghệ hoặc có ông bà kể cho nghe, đó là nguồn quý; khi kể lại, hãy giữ nguyên những từ địa phương có duyên, nhưng giải thích nhẹ cho người nghe vùng khác hiểu, thay vì nhại giọng.

Bác Ba Phi: vua nói dóc rừng U Minh

Bác Ba Phi là nhân vật nổi tiếng nhất của truyện kể nói dóc miền Tây Nam Bộ, gắn với vùng rừng tràm U Minh, Cà Mau. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhân vật có nguyên mẫu là một lão nông có thật ở vùng này, sống vào nửa đầu thế kỷ XX, nổi tiếng kể chuyện vui. Các truyện của bác được sưu tầm, in thành sách và kể trên sóng phát thanh, nên được biết đến rộng rãi.

Kiểu hài của Bác Ba Phi là nói dóc, tức phóng đại: cá to bất thường, rắn dài bất thường, muỗi, cọp, ong mật, chim chóc trong rừng U Minh đều được kể bằng những con số và cảnh tượng không thể có. Điều thú vị là người nghe biết bác "dóc", và chính bác cũng biết người nghe biết. Tiếng cười nằm ở độ trơn tru của câu chuyện và vẻ mặt tỉnh bơ của người kể.

Truyện Bác Ba Phi còn phản ánh một thời khai hoang: thiên nhiên Nam Bộ khi ấy giàu có và dữ dội thật, người dân phải sống chung với muỗi, rắn, cọp, nước lụt. Nói dóc vừa để vui, vừa để nhẹ bớt cái khổ. Khi kể, giữ giọng chậm, chắc như kể chuyện thật, và đừng bao giờ cười trước người nghe.

So sánh nhanh bốn trạng cười để kể cho đúng chất

Bảng dưới đây giúp bạn chọn nhân vật hợp với dịp kể và người nghe:

Nhân vậtVùng gắn vớiKiểu hàiĐối tượng bị cườiHợp kể cho
Trạng QuỳnhThanh Hoá, lan khắp nướcChơi chữ, mưu trí, bắt bẻ đúng luậtChúa, quan, sứ thần, nhà giàuTrẻ em, học sinh, cả nhà
Ba Giai Tú XuấtHà Nội và lân cậnChơi khăm, bày tròQuan tham, nhà giàu bủn xỉn, kẻ buôn gianNgười lớn, học sinh lớn
Xiển BộtNghệ An, Hà TĩnhCãi lý, làm đúng từng chữ đến phi lýLý trưởng, chánh tổng, kẻ cho vayNgười lớn, bữa trà
Bác Ba PhiU Minh, Cà MauNói dóc, phóng đạiKhông ai cụ thể, cười cái phi lýMọi lứa tuổi, buổi tối quây quần

Một mẹo nhỏ: nếu người nghe là trẻ nhỏ, truyện nói dóc kiểu Bác Ba Phi thường dễ vào nhất vì không cần hiểu chữ Hán hay bối cảnh quan lại. Nếu người nghe thích chữ nghĩa, Trạng Quỳnh hợp hơn. Ba Giai Tú Xuất và Xiển Bột hợp với người lớn, những người nhận ra ngay kiểu "ông quan" hay "nhà giàu" trong truyện giống ai ngoài đời.

Hai mẩu viết mới theo lối nói dóc và lối cãi lý

Hai mẩu dưới đây là truyện mới viết, không phải truyện dân gian có sẵn, chỉ để minh hoạ hai kiểu hài. Nhân vật trong mẩu một xưng "qua", cách xưng quen của người lớn tuổi miền Tây khi kể chuyện cho con cháu.

Mẩu 1. Con muỗi chở đò (theo lối nói dóc miền Tây)

Ông Tư ngồi bên bếp, kể: "Hồi đó muỗi trong rừng tràm to lắm. Có bữa chiều chạng vạng, qua chống xuồng về, thấy một con muỗi đậu trên mũi xuồng. Qua đuổi hoài nó không đi, mà nó còn vỗ cánh. Vỗ một hồi, xuồng chạy băng băng, khỏi chống." Đứa cháu hỏi: "Rồi muỗi có chích ông không?" Ông Tư tỉnh bơ: "Chích chớ. Mà nó chở qua về tới nhà rồi mới chích, coi như tiền đò."

Mẩu 2. Đắp đê đúng lệnh (theo lối cãi lý)

Ông lý ra lệnh: "Nhà nào cũng phải góp một gánh đất đắp đê, ai góp thiếu thì phạt." Anh Cu nhà nghèo gánh đến một gánh đất, mỗi bên thúng chỉ có một nắm. Ông lý quát. Anh Cu thưa: "Dạ, lệnh ông bảo một gánh, ông không bảo gánh đầy. Mà nhà con chỉ có mảnh vườn bằng cái chiếu, gánh đầy thì con hết chỗ trồng rau." Ông lý định phạt, nhưng nhìn sang thì thấy chính nhà mình cũng chưa góp gánh nào, đành lẳng lặng sai người nhà đi gánh trước.

Bạn thấy đó, cùng một mục đích gây cười, nói dóc thì đẩy sự việc ra xa sự thật, còn cãi lý thì bám thật sát câu chữ của kẻ ra lệnh. Kể hai kiểu liền nhau trong một buổi là cách hay để người nghe nhận ra sự khác biệt.

Kể truyện trạng cười sao cho duyên

Chọn đúng giọng cho từng nhân vật. Trạng Quỳnh cần giọng thong thả, hơi ngây thơ giả vờ. Ba Giai Tú Xuất cần giọng tinh quái, nhanh. Xiển Bột cần giọng chắc, ít lời. Bác Ba Phi cần giọng chậm, tỉnh, như kể chuyện có thật hôm qua.

Đừng nhại giọng vùng miền để gây cười. Có thể dùng vài từ địa phương cho đúng chất, nhưng cái cười phải đến từ tình huống. Nhại giọng để chọc người nghe là đi ngược tinh thần của chính các nhân vật này.

Mở đầu bằng một câu giới thiệu. Một câu như "ở miền Tây có ông Ba Phi nổi tiếng nói dóc" giúp người nghe chuẩn bị tâm thế, biết mình sắp nghe phóng đại chứ không phải chuyện thật.

Giữ câu chốt ngắn. Câu cuối càng ngắn càng tốt. Kể xong câu chốt thì dừng, để người nghe tự cười, đừng thêm "buồn cười chưa".

Câu hỏi thường gặp

Ba Giai và Tú Xuất là một người hay hai người?

Đó là hai nhân vật, thường được kể cùng nhau như một cặp bạn chơi khăm. Tú Xuất được hiểu là người đỗ tú tài, Ba Giai là người nghịch ngợm. Trong nhiều truyện hai người cùng bày mưu, nhưng cũng có truyện chỉ có một trong hai nhân vật xuất hiện.

Bác Ba Phi có phải người thật không?

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhân vật có nguyên mẫu là một lão nông ở vùng U Minh, Cà Mau, sống vào nửa đầu thế kỷ XX và nổi tiếng kể chuyện vui. Tuy vậy, kho truyện mang tên Bác Ba Phi đã được dân gian thêm thắt rất nhiều, nên nên coi đó là nhân vật truyện.

Truyện nói dóc khác truyện khoác lác thế nào?

Truyện nói dóc kiểu Bác Ba Phi là trò chơi mà cả người kể lẫn người nghe đều biết là phóng đại, cái cười đến từ độ khéo của lời kể. Truyện khoác lác trong tiếu lâm thì cười chính kẻ khoác lác, thường kết bằng cảnh kẻ đó bị bắt bẻ hoặc lòi ra sự thật.

Kể truyện trạng cười các vùng có dễ bị coi là chê vùng miền không?

Không, nếu bạn cười thói xấu của nhân vật bị chê trong truyện chứ không cười giọng nói, tính cách hay cái nghèo của người vùng đó. Tránh nhại giọng một cách chế giễu. Các trạng cười vốn là niềm tự hào của chính người dân mỗi vùng.

Tìm truyện Xiển Bột và Ba Giai Tú Xuất ở đâu để đọc thêm?

Có thể tìm trong các tuyển tập truyện cười dân gian Việt Nam do các nhà sưu tầm biên soạn, sách về văn học dân gian từng địa phương, hoặc hỏi người lớn tuổi trong vùng. Nên đọc từ nguồn sưu tầm có ghi rõ người biên soạn để hiểu đúng dị bản.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.